22 Apr 2011

Văn Minh Nhân Loại: Thiên Chúa Giáo

Khái niệm về nền văn minh Tây Phương gắn bó mật thiết với Ki Tô Giáo nhưng không những người phương Tây mà con chiên Ki Tô Giáo khắp nơi đã tạo ra hình thức tín ngưỡng phù hợp nhất với những nhu cầu và khát vọng riêng của họ. Đối với họ khái niệm Ki Tô Giáo và khái niệm Văn Minh liên kết với nhau. Như vậy muốn tìm hiểu văn minh Tây Phương ta phải tìm hiểu Ki Tô Giáo. Và muốn tìm hiểu Ki Tô Giáo thì ta phải tìm về cuội nguồn Do Thái của nó.
                       
                           Một trang Kinh Thánh cổ

Chúa Giê-Su là một người Do Thái và chính dân tộc Do Thái đã dựng nên một tôn giáo mà trọng tâm là vai trò Lưỡng Nguyên, tức là vừa Thượng Đế vừa là một Con Người của chúa Giê-Su.

Lời cầu nguyện của người Do Thái mở đầu bằng câu: "Israel hãy nghe đây, Chúa Trời là thượng đế của các người, Chúa Trời là Chủ Tể độc nhất.". Không như những dân tộc cổ xưa đa thần khác người Do Thái tin là chỉ có một vị Thượng Đế toàn năng duy nhất. Điều đó liên quan tới khái niệm là loài người có một nhân bản chung. "Dân Do Thái tin rằng loài người đã được Thượng Đế sáng tạo cùng một lần theo hình ảnh của Chúa, có nghĩa là mọi con người, bất kể lý lịch gốc gác, đều giống nhau vì họ đều là hiện thân của Chúa. Đó là khái niệm chính yếu cho toàn bộ câu chuyện của Thánh Kinh.". (1)

Nhưng theo các Thánh Kinh của người Do Thái, chẳng bao lâu sau khi được hình thành con người đã làm cho đấng Tạo Hóa thất vọng vì những hành vi phản đạo đức. "Thành ra Chúa làm một cuộc thí nghiệm mới. Chúa chọn một người tên Abraham để thử thách và truyền cho con người này những giá trị cao quí mà Chúa kỳ vọng nơi con người. Chúa hy vọng là Abraham sẽ sinh con đẻ cái và tạo dựng nên Bộ Tộc rồi Quốc Gia nơi con dân sẽ sống theo luân thường đạo lý để làm gương cho cả thế giới.". (1)

Abraham là người Do Thái đầu tiên cho nên người Do Thái tin là chính họ, những con dân của Israel đã được ủy thác sứ mạng làm trung gian giữa Chúa và tất cả các dân tộc khác. Họ tin là dân Do Thái sẽ xây dựng một xã hội dựa trên luân lý và luật pháp, tuân theo những nguyên lý xử thế mà Chúa đã đặt ra cho họ. Và từ đó họ trờ thành khuôn mẫu cho cả loài người. Trên tinh thần đó dân Do Thái tuân thủ 10 Giáo Điều nổi tiếng mà về sau đã trở thành nền tảng đạo đức của Ki Tô Giáo. Họ cho rằng chính Chúa đã dạy Abraham như thế này:

"Ngươi chỉ được tôn thờ mỗi một Thượng Đế là ta. Ngươi không được tạo ra hình ảnh của ta, bỡi vì ta là một Thượng Đế khắc khe. Ngươi không được nói lên tên của Chúa Trời một cách khinh lờn. Hãy ghi nhớ ngày Shabbat như một ngày thiêng liêng. Hãy kính trọng Cha Mẹ ngươi để có thể tồn tại lâu dài trên đất nước mà Chúa Trời đã ban cho ngươi. Ngươi không được sát nhân. Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được khai gian để hại láng giềng. Ngươi không được tham muốn nhà cữa của hàng xóm. Ngươi không được thèm thuồng vợ người ta. Không được dòm ngó đầy tớ, trâu bò, lừa ngựa cũng như bất kỳ của cải nào khác của họ."

Đó là những giáo điều hết sức cơ bản mà không cần phải là người Ki Tô Giáo mới đả thông được.

Do Thái Giáo cũng để lại cho Ki Tô Giáo nhiều quy luật hành xử quan trọng khác nữa mà nổi tiếng nhất là câu: "Hãy yêu thương xóm giềng như chính ngươi.". Trong tiếng Việt ta cũng có câu tương tự "Thương người như thể thương thân". Người Do Thái Giáo hiểu thái độ nhân ái là trách nhiệm chăm lo đối với những người chung quanh mình, bất kể họ là người thân hay là người dưng nước lã. Thánh Kinh của người Do Thái về sau được Ki Tô Giáo tiếp thu và biến thành bộ Cựu Ước Kinh gồm các lời sấm, những vần thơ, những câu chuyện kể lại những nỗi truân chuyên của dân tộc Do Thái qua các thế hệ. Nhưng Ki Tô Giáo cũng có Thánh Kinh riêng của họ, đó là Tân Ước Kinh kể lại câu chuyện về chúa Giê-Su và các Thánh Tông Đồ. Như vậy thì Ki Tô Giáo và Do Thái Giáo khác nhau ở chỗ nào? "Theo tôi, không như Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo không muốn linh thiêng hóa một nhân vật thế tục như chúa Giê-Su. Do Thái Giáo xem chuyện thiêng liêng hóa một con người thế tục, dù xuất chúng đến đâu chăng nữa, là không thể chấp nhận được. Và đó là điểm phân cách giữa hai thứ tôn giáo đó.". (1)

Trong khi đó người Ki Tô Giáo cho rằng Thượng Đế đã quyết định phàm hóa đức Chúa Trời bằng con người chúa Giê-Su. "Cái ý tưởng một thần linh giáng trần dưới dạng một con người phàm tục có nhiều sức thu hút bỡi vì nó giải tỏa được ý niệm Thượng Đế là một cái gì xa vời, khó hiểu. Người Ki Tô Giáo tin rằng trong lốt phàm tục thì Thượng Đế có thể đi vào cuộc đời thường ngày, hiểu được những tình cảnh, tâm trạng khác nhau, những phấn đấu của con người. Cái ý tưởng Thượng Đế hiện hữu qua một kiếp người chính là một sự kích động đối với nhiều người trong suốt bao nhiêu thế kỷ qua.". (2)

Ngoài khái niệm đó Ki Tô Giáo còn phát triển khái niệm nhân ái thêm một bước nữa. Đó là, yêu thương ngay kẻ thù của ta và nhường nhịn trong mọi tình huống để chủ hòa. Theo họ, chúa Giê-Su dạy:

"Hễ có người nào tát ngươi vào má bên phải, hãy chìa má bên trái ra cho họ. Hãy yêu cả những kẻ thù. Hãy ban phước cho những kẻ chửi rủa ngươi. Hãy đối xử tốt với những kẻ thù hận ngươi, và hãy cầu nguyện cho những kẻ lợi dụng và hành hạ ngươi."

Ki Tô Giáo còn mở rộng vòng tay đón nhận những thành phần xưa nay bị lãng quên hay bị áp bức. Đây là sức hấp dẫn chính của tôn giáo này. "Kinh Cựu Ước nói đến việc ta phải săn sóc những người nghèo, người bệnh tật, cô nhi quả phụ; và như vậy người Ki Tô Giáo đã áp dụng nguyên tắc đó trong một hệ thống an sinh xã hội sơ đẳng. Họ đã dành ra một quĩ để cứu trợ thành phần bất hạnh. Đó là một khái niệm văn minh quan trọng mà hầu như người La Mã thời đó chưa biết tới nhiều.". (3)

Khác với người theo Do Thái Giáo, người Ki Tô Giáo tin tưởng là ai cũng có thể trở thành một tín đồ, và từ đó nảy sinh ra hoạt động truyền giáo. Đây là điều cần thiết khiến cho từ một vị trí giáo phái trong Do Thái Giáo, Ki Tô Giáo đã trở thành một tôn giáo toàn cầu. Để được dễ dàng chấp nhận và để tránh tình trạng căng thẳng với chính quyền La Mã thời bấy giờ các nhà truyền giáo Ki Tô đã tỏ vẻ uyển chuyển trong việc cho phép giáo dân thích nghi hóa các qui luật thờ phượng của họ. Nổi tiếng nhất trong công việc này là Thánh Phao-Lồ. Ông là một người Do Thái và đã từng đàn áp người Ki Tô Giáo, nhưng sau một chuyến đi đến Damascus ông đã giác ngộ và thay đổi thái độ. Tuy mềm mỏng và dễ thích nghi giáo dân Ki Tô vẫn bị chính quyền La Mã ngược đãi. "Họ bị chính quyền La Mã đàn áp vì Ki Tô Giáo bị coi là bất hợp pháp, thành ra những nhà thờ đầu tiên được đặt cách xa chợ búa. Thật ra đó là những nơi mà không ai nhận ra là nơi thờ phượng Ki Tô Giáo, và chỉ đến khoảng thế kỷ thứ Ba sau Công Nguyên, tức là ngay trước khi việc đàn áp Ki Tô Giáo chấm dứt, thì nhà thờ theo nghĩa là một kiến trúc được dành riêng để thờ phụng mới xuất hiện. Một số nơi chốn nguyên thủy của các nhà thờ đã có từ thời đàn áp đó còn tồn tại đến sau này như những địa điểm lịch sử linh thiêng, và đôi khi là nơi mà những con chiên Ki Tô Giáo đã xây nên những nhà thờ bề thế hơn.". (3)

Với việc xây dựng các nhà thờ, các bộ môn nghệ thuật trang trí cho các nhà thờ đó cũng phát triển theo. Trước kia nghệ thuật của người Hy Lạp và La Mã dựa trên quan điểm cho rằng thế giới tự nhiên là một thực tại và con nguời là biểu tượng cho cái đẹp. Nhưng Ki Tô Giáo đã thay đổi hết những tư duy đó. "Người Ki Tô Giáo xem thực tại chỉ hiện hữu qua Thượng Đế và qua các giá trị vĩnh cửu, thành ra hình ảnh họ tạo ra để mô tả thế giới đó đã mang tính trừu tượng. Và trong những thế kỷ sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, trong nghệ thuật Tây Phương ta thấy ngày càng có nhiều thay đổi từ khuynh hướng tự nhiên sang trừu tượng hơn. Ở đây không có một tác phẩm điêu khắc đáng kể nào suốt thế kỷ thứ Năm cho đến đầu thế kỷ thứ 11. Nên biết trước đó nghệ thuật điêu khắc ba chiều đã được gắn liền với quan điểm nhân bản của văn minh Hy Lạp và La Mã, nhưng trong kỷ nguyên Ki Tô Giáo thì khái niệm đó đã mất hết ý nghĩa. Thay vì điêu khắc, người Ki Tô Giáo dùng nghệ thuật khảm để trang trí thành ra hình ảnh của họ chỉ còn có hai chiều và thường được đt trong những bối cảnh sơn son thếp vàng chói lòa, đôi khi làm cho người xem không thể nhận ra hình dáng của những hình ảnh đó nữa. Những hình ảnh đó ngày càng trở nên hai chiều và mang nhiều tính cách trẻ thơ hơn. Người Ki Tô quan niệm họ không cần phải biểu hiện thực tại một cách tự nhiên bỡi vì thực tại tối hậu không phải là vật chất mà là tâm linh.". (4)

Nhưng chúng ta đã đi trước một chút bỡi vì vào thế kỷ thứ Tư sau Công Nguyên nghệ thuật Ki Tô Giáo chưa xuất hiện khi hoàng đế La Mã Constantine chấm dứt việc đàn áp đạo này và chính ông ta cũng trở thành một tín đồ Ki Tô, tuy ông không đòi hỏi người khác phải chuyển đạo như ông. Dưới thời Constantine những tín đồ Ki Tô có thể tập hợp để nghe giảng thánh kinh một cách an toàn. Trước đó vì phải tụ tập một cách lén lút họ đã phát minh ra một cách làm sách mới. "Ngày xưa bản kinh Cựu Ước được viết trên một cuộn giấy dài, tức là khá bất tiện để đọc, cho nên người Ki Tô Giáo đã phải phát minh ra một cách khác, đó là "cô-đét", một hình thức sách đóng gáy giống như bây giờ. Nhờ đó tín đồ Ki Tô Giáo có thể đọc kinh sách trong nhà thờ một cách dễ dàng. Hình thức đóng sách "cô-đét" sau này đã chinh phục cả thế giới, đó là một đóng góp lớn của tín đồ Ki Tô Giáo cho nhân loại.".(3)

Vào cuối thế kỷ thứ Tư sau Công Nguyên hoàng đế Theodosius bắt buộc dân chúng phải chyển sang đạo Ki Tô. Ai không tuân thì phạm luật. Điều trớ trêu là chẳng bao lâu sau đó chính quyền đã bắt đầu đặt ra những luật lệ giới hạn về giáo điều gây cản trở cho Ki Tô Giáo. "Ít nhất là tại Phương Tây người Ki Tô Giáo có một ám ảnh không thể nào chữa được là muốn tạo nên một tư duy thuần nhất. Trong khi đó đối với các tôn giáo khác thì giáo lý thuần nhất không quan trọng bằng lối hành xử cho phải đạo, và quan điểm về Thượng Đế được coi như là vấn đề riêng tư.". (5)

Nhưng quan niệm về Thượng Đế đã trở thành một tranh cãi gay go trong giới trí thức Thần Học vào thế kỷ thứ Năm. Họ là cha đẻ của giáo hội Ki Tô và họ đã dành suốt cuộc đời để diễn giải Cựu và Tân Ước, để tranh luận về bản chất của Thượng Đế. Truyền thống tranh luận cũng đã phát triển mạnh mẽ trong giới trí thức Do Thái Giáo. "Nhiều năm sau khi cuốn Thánh Kinh Do Thái Giáo ra đời, khi dân Do Thái còn sống ở cả Babylon lẫn đế quốc La Mã thì tại PalestineBabylon đã xuất hiện bộ kinh Talmud, một tác phẩm rất đáng chú ý của người Do Thái về phương diện học thuật, nghiên cứu, luật pháp, lẫn phân tích và cả trào phúng nữa. Trong suốt một quá trình hoàn thiện kéo dài suốt 500 năm kinh Talmud đã trở thành rường cột chính cho ngành Do Thái Học sau này. Muốn thấu hiểu tác phẩm này thì quả thật là khó khăn, nhưng qua nhiều thế hệ kinh Talmud đã đóng vai trò chính trong việc phát triển tri thức Do Thái.". (1)

Một trang của Jerusalem Talmud (Có nhiều phiên bản khác nhau của kinh Talmud như phiên bản Babylon, phiên bản Jerusalem...etc)

Chính nhờ sự trau dồi tư duy qua bộ kinh Talmud mà trong nhiều thế kỷ tuy ít ỏi về dân số người Do Thái đã đóng góp rất nhiều cho đời sống trí thức của thế giới. Nhưng dù sao chăng nữa kể từ thời chúa Giê-Su người Ki Tô Giáo và người Do Thái Giáo đã tạo ra hai truyền thống trí thức rất khác nhau. Trong khi Ki Tô Giáo tranh cãi kịch liệt trong một phạm vi nhỏ hẹp là bản chất của Thượng Đế mà Giáo Hội thường phải phân giải, thì ngược lại Do Thái Giáo đã mở rộng đề tài và hầu như tranh cãi đối với họ không phải là để đi đến một lời giải mà là để đặt ra thật nhiều câu hỏi. Đó là một tư duy mang nhiều chất văn minh.


Nhưng mặc cảm về tội lỗi nguyên thủy của Ki Tô Giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong văn minh Phương Tây, và đã có tác động tiêu cực lẫn tích cực. Điều đó phát xuất từ lý thuyết tội lỗi nguyên thủy của Thánh Augustine dựa trên câu chuyện đầu tiên trong Cựu Ước. Theo chuyện này trong vườn Địa Đàng con rắn đã dụ dỗ Eve, người đàn bà đầu tiên, ăn trái từ cây cuội nguồn của hiểu biết, đó là một điều mà Chúa đã đặc biệt cấm, nếu ăn là phải chết. Rồi Eve đưa trái cấm cho chồng mình là Adam ăn. Sau khi ăn xong trái cấm thì cả hai bắt đầu nhận thức được tình cảnh trần truồng đáng xấu hổ của mình. Như vậy sự hiểu biết đã đem lại mặc cảm tội lỗi. "Đối với thánh kinh Cựu Ước thánh Augustine là người chủ trương đọc sao tin vậy. Trong khi người Hy Lạp theo Ki Tô Giáo chính thống và người Do Thái hiểu câu chuyện về Eve Adam theo ý nghĩa ngụ ngôn, và bóng bẩy như thi ca thì thánh Augustine coi đó như là những sự thật lịch sử. Và ông tin là kể từ đó tất cả những đứa trẻ sinh ra đều thừa hưởng cái tội lỗi nguyên thủy của EveAdam. Và như lời ông thì toàn thể nhân loại đều chìm đắm trong tội lỗi. Trong giáo lý Augustine, tất cả mọi đứa trẻ ra đời là do hậu quả của thèm muốn xác thịt, đều bị sinh ra trong tình trạng bất tuân, trong hoàn cảnh tội lỗi. Theo Augustine, chúng ta thừa hưởng cái tội lỗi nguyên thủy này tỷ như là một căn bệnh hoa liễu thối tha.". (5)

Thành ra nền văn minh Phương Tây bị ám ảnh về tình dục bao trùm. Và đó là điều ta có thể thấy qua tiến trình phát triển của nghệ thuật Phương Tây trong thời Trung Cổ. Đó là những thế kỷ sau thiên niên kỷ thứ Nhất, khi ảnh hưởng của giáo hội Ki Tô Giáo tại Châu Âu đã lên đến đỉnh cao nhất. Một trong những khác biệt lớn giữa nghệ thuật Hy Lạp-La Mã và nghệ thuật Trung Cổ ngay cho đến cuối thời này là: thái độ khác nhau đối với nhục thể. Một thí dụ điển hình là cảnh tượng vẽ AdamEve trên cánh cữa bằng thanh đồng tại nhà thờ Hildesheim ở phía bắc nước Đức. "Đó là những hình tượng thô kệch, không có nét đẹp thể xác nào cả. Chắc chắn là không có một hấp dẫn nhục dục như tượng thần Vệ Nữ của Hy Lạp-La Mã. Đó là hình tượng của sự trần truồng cứ không phải là của khỏa thân. AdamEve có vẻ như là bị lột quần áo và đang run rẩy trong một bầu không khí xa lạ. Thành ra quan điểm của thời Trung Cổ về xác thịt rất là bệnh hoạn.". (4)
 AdamEve được thể hiện trên cửa đồng vào thời Trung Cổ (1001), hiện đang lưu giữ tại nhà thờ Hildesheim, phía bắc nước Đức


Đối với nhiều người Ki Tô Giáo cuộc sống trên trái đất này đã trở thành tạm bợ so với cái vĩnh cửu của cuộc sống tử hậu. Đó là khái niệm chỉ xuất hiện rất muộn trong Cựu Ước và chỉ bắt đầu phát triển trong Thiên Chúa Giáo sau khi chúa Giê-Su đã chết. Đây là một ý niệm rất trừu tượng. "Thánh Phao-Lồ nói tới sự Phục Sinh của phần hồn chứ không phải là của phần xác. Và ông mô tả nó như là chu trình cái hạt biến thành bông hoa, mà đằng sau đó là ý tưng rằng con người có thể vượt qua được cái chết. Trước tiên đó chính là nguồn an ủi và khích lệ cho những người Ki Tô nguyên thủy vốn đã phải đối đầu với những đàn áp khủng khiếp. Thứ đến, đó là một viễn tượng cho thấy rằng cái ác không phải là tối hậu, rằng những gì xấu xa nhất đều có thể chuyển sang thành cái tốt. Thành ra cái ý tưởng về một cuộc sống tử hậu không phải chỉ tùy thuộc vào việc hồn nhập xác trở lại mà là một viễn tưởng về một kiếp sau tốt đẹp hơn khi Chúa muốn chúng ta hiện hữu trong một trạng thái hoàn thiện hơn. ". (2)


Thành ra những giáo đường Gothic vĩ đại của thời Trung Cổ theo một nghĩa nào đó đã được xây dựng để biểu tượng những viễn tưởng của người Ki Tô Giáo về Thượng Đế của họ. Những nhà thờ Gothic với những hàng cột cao vút lên trên một mái vòm bằng đá có lẽ là thành quả cao nhất của người thuộc Ki Tô Giáo, và chúng thường được tô điểm bằng những điêu khắc tuyệt vời mô tả con người trong những y trang đẹp đẽ. Các cữa sổ của những thánh đường này là những tấm kính ghép màu rực rỡ với màu xanh da trời đậm là điển hình. Trên những tấm kính đó là những hình ảnh mô tả những câu chuyện ở trong Thánh Kinh. Nhưng kính ghép màu không phải chỉ để trang trí mà thôi. "Người Ki Tô thời Trung Cổ xem ánh sáng màu qua kính ghép là biểu tượng của ánh sáng linh thiêng. Kể từ bản Tân Ước của thánh Jean, thời Trung Cổ đã đồng hóa Thượng Đế với ánh sáng và theo ý nghĩa đó kính màu là môi trường lý tưởng để thể hiện sự hiện diện của Thượng Đế trên cõi phàm tục này. Những tia sáng rọi qua kính màu là ngụ ý hiển nhiên nhất của ánh sáng mà Thượng Đế chiếu xuống cõi trần, và như vậy nội thất của thánh đường tràn ngập trong ánh sáng này trở nên một hình ảnh của thiên đường.". (4)

Quyền lực mà Ki Tô Giáo đã tác động lên tâm trí con người trong thời Trung Cổ khiến nó thành một nguồn cảm hứng lớn, từ đó con người đã sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị. Trong đời sống thường ngày niềm tin về sự cứu rỗi của Thượng Đế vạn năng và toàn thiện đã tạo cho tín đồ Ki Tô Giáo thêm sức mạnh tinh thần. Nhưng mặt khác việc Giáo Hội dùng quyền lực của mình để dẹp bỏ những tư tưởng bất đồng đã làm thui chột những nỗ lực khai phá và canh tân tư duy. Tuy nhiên khi thiên niên kỷ thứ Nhất kết thúc bắt đầu từ năm 1000 các học giả và tư tưởng gia Hồi giáo đã tạo ra một nền văn minh có khả năng mở mang tư duy của con người. Và chính văn minh Hồi Giáo sẽ là đề tài kế tiếp.

Nội dung đựoc trình bày bỡi:
(1) Giáo sư Jonathan Margernet - Học Viện Leobeth (?), Luân Đôn
(2) Rossmie Carthew Cựu phóng viên Tôn Giáo của BBC
(3) Giáo sư Owen Jacquet - Tác giả nhiều sách về Ki Tô Giáo
(4) Giáo sư Paul Krausley - Học viện Costle (?) Luân Đôn
(5) Tác giả Karin Amstrong

Hình minh họa nguồn internet

No comments: